Trang chủ
Du lịch theo Chủ Đề
Tour Miền Trung
 
 
Thanh toán an toàn với Bảo Kim !
[Hướng dẫn thanh toán]

THĂM XỨ HUẾ THƯƠNG

Thời gian: 4 ngày 4 đêm, bằng xe OpenBus & khởi hành HÀNG NGÀY 

Bên bờ phía  Bắc của sông Hương, Huế là một di tích gồm những lâu đài được xây dựng theo kiểu phòng thủ tạo thành một đường vòng cung dài 11km. Công trình quí giá này gồm hơn 100 tác phẩm kiến trúc, đã thực sự phản ánh được cuộc sống của vua quan nhà Nguyễn. Giữa những quả đồi ở bờ Nam sông Hương là những lăng tẩm rất đẹp của các vua Nguyễn. Trong số đó nổi tiếng nhất là bốn lăng tẩm mà mỗi lăng được biết đến với cái tên phù hợp với tính cách của mỗi vua và kiểu kiến trúc của mỗi lăng. Ðó là lăng Gia Long uy nghi, lăng Minh Mạng oai phong, lăng Tự Ðức thơ mộng và lăng Khải Ðịnh tráng lệ.

Huế đồng thời còn là một trung tâm quan trọng của Ðạo Phật. Ở Huế và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại hàng chục chùa đã được xây dựng cách đây trên 300 năm và hàng trăm đền, chùa được xây dựng đầu thế kỷ 20. Ngoài ra, Huế còn được xem như là nơi bắt nguồn của nhạc cung đình, là nơi có nhiều món ăn truyền thống nổi tiếng và nghề thủ công tinh xảo.

Giá dành cho 01 thành viên:  1.955.000Đ

Lưu ý: Giá áp dụng cho khách lẻ & khởi hành hành ngày!

Tour mở : l Huế - Hội An - Mỹ Sơn, 5N l Di sản Miền Trung l Furama Resort - Hội An - Huế l   

   l Hạ Long l Hoa Lư l Chùa Hương l Mùa xuân Sapa l Nha Trang l Miền Tây l Xuyên Việt l

  Ngày

Chi tiết tour

Hình ảnh

Ngày 01

Hà Nội - Huế

18h00: Đón qúy khách tại điểm hẹn khởi hành đi Huế. Quý khách ngủ đêm trên xe (các điểm dừng nghỉ trong hành trình: Ninh Bình (10h00); Vinh (1h00 sáng); Đồng Hới (6h00 sáng); Đông Hà (7h00 sáng)

Lựa chọn: Quý khách có thể đáp chuyến tàu SE1, SE3, khởi hành đi Huế, ngủ đêm trên tàu. Vui lòng liên hệ: 04.3747 8557 * 0988 75789.

du lịch huế

Ngày 02

Tham quan Cố Đô Huế          Ăn: Sáng

08h15: Đến Huế vào khách sạn nhận phòng nghỉ ngơi và ăn sáng.

Chiều: Tham quan thành phố Huế với cầu Trường Tiền, Đại Nội - Kinh Thành của các vị vua Nguyễn, thăm Ngọ Môn, Điện Thái Hoà,Tử Cấm Thành, Hồ Tĩnh Tâm, Thế Miếu, Hiển Lâm Các, Cửu Đỉnh, ghé chợ Đông Ba mua hàng hóa và đổ lưu niệm gia đình. Kết thúc tour tại khách sạn.

Tối: Tới cầu Trường tiền nghe ca Huế và thả đèn hoa đăng trên dòng sông Hương thơ mộng. Nghỉ đêm tại khách sạn.

Đại nội huế

Ngày 03

Lăng tẩm triêu Nguyễn        Ăn: Sáng

Sau bữa sáng, xe và hướng dẫn viên đón quý khách đi tham quan cố đô Huế với Lăng vua Tự Đức được tọa lạc giữa rừng thông bát ngát thơ mộng. Tiếp tục thăm Lăng Vua Minh Mạng, vị Vua không những nổi tiếng vì nhiều cung tần mỹ nữ mà ông còn để lại cho thế hệ sau này một khu di tích trên 20 công trình lớn nhỏ. Sau đó tới bến thuyền xuôi theo dòng sông Hương thơ mộng ngắm cảnh làng quê đôi bờ trù phú, ghé thăm chùa Thiên Mụ với ngọn tháp Phước Duyên hình bát giác cao 20 m gồm 7 tầng.

Chiều: Tự do dạo bộ tham quan thành phố Huế, mua sắm đặc sản xứ Huế tại chợ Đông Ba. Nghỉ ngơi ít phút trước khi xe đón về  openbus giường nằm Hà Nội lúc 17h30. Quý khách nghỉ đêm trên xe.

lăng minh mạng huế

Ngày 04

Hà nội
08h00: Về tới Hà nội. Chia tay quý khách, kết thúc chuyến du lịch. Hẹn gặp quý khách trong chuyến đi tới.

sông hương

Giá vé bao gồm

  • Xe giường nằm khứ hội chặng: HN - Huế - HN và xe ghép đoàn khi tham quan.

  • Khách sạn 3 sao trung tâm Huế: 2 người/1 phòng, tivi, điều hòa, bình nóng lạnh.

  • Các bữa ăn sáng theo chương trình.

  • Thuyền và nghe ca Huế trên sông Hương.

  • Hướng dẫn viên thuyết minh giới thiệu trong các ngày thăm quan.

  • Phí thắng cảnh tại các điểm tham quan.

  • Bảo hiểm du lịch mức: 10.000.000Đ/khách/Tour

Giá vé không bao gồm: 

  • Các bữa ăn chính trong chương trình

  • Phí phòng đơn: 300.000Đ/khách

  • Chi tiêu cá nhân, đồ uống trong các bữa ăn, hoá đơn thuế VAT 10% và tiền típ hướng dẫn - lái xe.

Lưu ý và Phí áp dụng với trẻ em:

  • Trẻ em 1- 3 tuổi: miễn phí (ăn + ngủ chung bố mẹ); 4 - 9 tuổi: tính 75% giá người lớn (ăn suất riêng và ngủ chung với bố mẹ); 10 tuổi trở lên: tính như người lớn.

  • Quý khách đi bằng tàu hoả vui lòng liên hệ với chúng tôi để có giá chi tiết, giá đi bằng tàu khác nhau giữa các loại tàu cũng như giữa ghế ngồi, giường nằm. .

  • Quý khách đi thêm Phong Nha, Động Thiên Đường, DMZ, Phố cổ Hội An, vui lòng liên hệ: 04.3747 8557 - 0988757689.

NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ XỨ HUẾ

Thành phố Huế

Diện tích             : 5.054 km²

Dân số                : 1.136.100 người (năm 2005)

Các quận, huyện:

- Thành phố       : Huế

 - Huyện       : Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, Nam Ðông, A Lưới.

Dân tộc              : Việt (Kinh), Tà Ôi, Cơ Tu, Bru Vân Kiều, Hoa.

 

Vài nét lịch sử Huế

Nằm giữa miền Trung Việt Nam, với tọa độ 16o đến 16,45O độ vĩ Bắc, 107,03O đến 108,08O kinh đông, Thừa Thiên Huế có diện tích 5.009,2 km2, Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, Nam giáp thành phố Ðà Nẵng, Ðông giáp biển Ðông, Tây có dải Trường Sơn hùng vĩ và giáp nước bạn Lào. Biên giới Việt Lào đoạn đi qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài khỏang 88 km. Bờ biển có chiều dài 128 km với Cảng Thuận An và Cảng nưóc sâu Chân Mây. Trên dải đất nhỏ hẹp này, địa hình tự nhiên được cấu tạo hết sức đa dạng, gồm núi cao, rừng sâu, vùng gò đồi trung du, vùng đồng bằng, vùng đầm phá nước lợ, vùng duyên hải ven biển...Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, không có mùa đông và mùa khô rõ rệt. Hàng năm có những tháng liên tục chịu gió đông bắc, bão biển từng cơn và mưa rét kéo dài. Thừa Thiên Huế hiện có 8 huyện và thành phố Huế, cố đô của Việt Nam, đô thị lọai 2, một trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế và du lịch quan trọng của cả nước.

 

Trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mãnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng ( Hương Chữ, Hương Trà) cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Hùynh được tìm thấy lần đầu tiên  tại TT Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng ( La Chữ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Hùynh, Thừa Thiên Huế còn sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn. Năm 1994, trống đồng lọai 1 đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền. Ðây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.

 

Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển.. Trong thời kỳ phát triển của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Ðầu thời kỳ Bắc thuộc, lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Sau đó trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Champa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938); Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, " nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Champa; Vua Chế Mân dâng tiếp hai châu Ô, Rí ( Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa.

 

Kinh thành Huế

Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832), là một dãy thành lũy dài cao 6,60m, dày 21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài.Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ngoài ra hai bên Kỳ Ðài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành.

 

Theo nguyên tắc địa lý phong thủy của Ðông Phương và thuyết âm dương-ngũ hành của Dịch học. Kinh thành quay mặt về hướng Nam, dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng 2 hòn đảo nhỏ trên sông Hương (Cồn Hến - Cồn Dã Viên) làm rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long - Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ đế đô. Dòng Sông Hương chảy ngang trước mặt dùng làm Minh Ðường. Bốn mặt kinh thành đều được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi gọi là sông Hộ Thành.

 

Ở trong lòng Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành được gọi chung là Ðại Nội. Hoàng Thành dùng để bảo vệ khu vực các cơ quan lễ nghi, chính trị quan trọng nhất của triều đình và các điện thờ. Tử Cấm thành bảo vệ nơi làm việc, ăn ở và sinh họat hàng ngày của nhà vua và gia đình..

 

Ðược xây dựng từ 1804-1833, Ðại Nội có mặt bằng xây dựng theo hình gần vuông, mặt trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m. Thành xung quanh xây bằng gạch (cao 4,16m, dày 1,04m), bên ngoài có hệ thống hộ thành hào, gọi là Kim Thủy Hồ, để bảo vệ thành. Mỗi mặt trổ một cửa để ra vào: Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn (trái), Chương Ðức (phải). Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi.

 

Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp, mặt bằng Ðại Nội chia thành nhiều khu vực khác nhau:

  • Từ Ngọ Môn đến Ðiện Thái Hòa làm nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.

  • Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Ðiện Phụng Tiên là nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.

  • Cung Diên Thọ và Cung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng Thái Hậu.

  • Phủ Nội Vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng hoàng gia.

  • Vườn Cơ Hạ và Ðiện Khâm Văn là nơi các Hoàng tử học tập và chơi đùa.

 

Tử Cấm Thành: Có mặt bằng cũng gần vuông, cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m; mặt trái và phải dài 290m. Quanh thành trổ 10 cửa. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua ra vào, hiện nay đã hư hại hòan toàn. Bức bình phong to rộng dăng ngang sau lưng đIện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết thế giới sau đó chỉ dành riêng cho vua và gia đình. Trong đó có hàng trăm cung nữ và hàng chục thái giám thường trú để phục vụ hoàng gia. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc vàng son lộng lẫy bao gồm: điện Càn Thành (nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính vua ở), Duyệt Thị Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách),.điện Quang Minh (nơi ở các hòang tử), điện Trinh Minh (nơi các hòang hậu ở), điện Kiến trung, vườn Cẩm Uyển...

 

Hệ thống kiến trúc ở Ðại Nội đã được hoạch định theo những nguyên tắc chặt chẽ, đăng đối: chia ra các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất cả đều nhất quán. Nó thể hiện những khái niệm về triết lý chính trị Nho giáo phương đông. Phần lớn các công trình kiến trúc ở đây đều làm bằng gỗ quý , nhưng cũng không chịu đựng nổi với thiên tai, khí hậu khắc nghiệt hàng thế kỷ qua và các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề. Cho nên một số công trình đã bị hư hỏng, các di tích quý này hiện nay đang được Nhà nước quan tâm đầu tư  kinh phí để phục hồi, tôn tạo lại từng bước.

 

Ngọ Môn

Vừa là cổng chính, vừa là bộ mặt Ðại Nội, được xây dựng vào năm 1833 khi Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội. Ngọ Môn là một tổng thế kiến trúc đa dạng, phía trên là lầu Ngũ Phụng với chức năng như một lễ đài, dùng để tổ chức một số lễ nghi trọng thể như duyệt binh, lễ xướng tên những người thi đỗ tiến sĩ, lễ ban sóc hàng năm và đây cũng là nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại - vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30/8/1945.


 

Theo kinh dịch thì các vị vua bao giờ cũng quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ, cho nên ngay từ thời Gia Long (1802-1819), khi xây dựng kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị thế  tọa càn hướng tốn   (Tây Bắc - Ðông Nam) cũng có nghĩa là hướng Bắc - Nam, thuộc Ngọ trên trục Tý - Ngọ, do đó Minh Mạng đã đặt tên cho chiếc cổng mới xây ở chính giữa mặt trước hoàng thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết đài.

 

Hệ thống nền đài cao gần 5m, xây trên mặt bằng chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m và cánh 27,06m. Ở phần giữa của nền đài trổ ba lối đi. Ngọ Môn dành cho vua đi, Tả và Hữu Giáp Môn dành cho các quan văn võ theo hầu trong đoàn ngự đạo. Tả và Hữu Dịch môn nằm ở hai cánh của nền đài, dành cho lính tráng và voi ngựa đi. Hệ thống lầu ngũ phụng có hai tầng, lầu gồm chín bộ mái lợp ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly, lầu dựng trên nền cao 1,14m xây trên nền đài. Ở tầng trên, mái lầu chia ra thành 9 bộ khác nhau. Tổng thể Ngọ Môn nhìn từ xa như một tòa lâu đài đồ sộ nguy nga, nhưng khi tiếp cận, nó trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm của con người xứ Huế.

 

Điện Thái Hoà

Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan trọng nhất xét về nhiều mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật. Ðiện Thái Hòa là địa điểm sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn. Ðây là nơi diễn ra các lễ đại triều hàng tháng (vào ngày 1 và 15 âm lịch) hoặc các đại lễ khác như lễ Ðăng Quang (vua lên ngôi), lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), lễ Hưng Quốc Khánh Niệm... với sự tham gia của vua, hoàng thân, quốc thích và các vị đại thần. Về lịch sử xây dựng ngôi điện này, có thể chia làm ba thời kỳ chính, trong mỗi thời kỳ đều có một số thay đổi, cải tiến về kiến trúc trang trí,...

 

Thời Gia Long Ðiện Thái Hòa được khởi công xây dựng vào 21/2/1805 và hoàn thành vào tháng 10/1805. Thời Minh Mạng, vào tháng Giêng năm Quý Tỵ, tức tháng 3/1833, khi tái quy hoạch và hoàn chỉnh hóa hệ thống kiến trúc cung đình Ðại Nội, vua Minh Mạng đã cho dời điện Thái Hòa hơi dé về phía Nam, đồ sộ và rộng lớn. Thời Khải Ðịnh, năm 1923, vua Khải Ðịnh cho đại tu điện Thái Hòa để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần đại khánh tiết. Trong đợt tu sửa lớn này, có một số bộ phận kiến trúc ngôi điện này được thay đổi và làm mới. Trên mái điện, người ta đắp nổi 9 con rồng với một nghệ thuật cực kỳ tinh xảo. Cuối gian giữa của chính điện là ngai vàng được chạm khắc công phu, phía trên là bửu tán được trang trí cực kỳ lộng lẫy. Tám mươi cây cột gỗ lim khá lớn đều vẽ hình rồng vờn mây, màu vàng son rực rỡ.

 

Qua kiến trúc và trang trí của Ðiện Thái Hòa, chúng ta thấy người xưa đã gửi gắm vào đó khá nhiều ý tứ sâu xa đượm màu sắc đạo lý truyền thống phương Ðông. Bên cạnh ngôn ngữ kiến trúc mang tính triết học, tòa cung điện này còn ghi lại nhiều ngôn ngữ văn học với 297 ô hộc khắc chạm và đúc nổi thơ chữ Hán, nói lên một trong những nét đặc sắc của văn hóa Phú Xuân đầu thế kỷ XIX. Phía trước Ðiện Thái Hoà là sân Ðại Triều, hồ Thái Dịch và cầu Trung Ðạo. Sân Ðại triều chia làm 3 tầng, là nơi dành cho các quan từ nhất phẩm đến cửu phẩm sắp hàng làm lễ. thứ tự các quan được đánh dấu bởi hai hàng phẩm sơn (bia đá nhỏ) dựng ở hai bên sân.

 

Ðiện Thái Hòa là một trong những tòa cung điện tiêu biểu được xây dựng khá sớm ở Huế (1805), mang phong cách độc đáo của địa phương, cũng là cung điện rộng lớn, uy nghi, tráng lệ nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình còn lại ở Huế.

 

Củu Đỉnh

Ðặt tại sân Thế Miếu, là sản phẩm độc đáo, tinh xảo, được Bộ Công đúc tại Huế từ cuối năm 1835-đầu 1837. Cửu Ðỉnh biểu hiện ước mơ về sự trường tồn mãi mãi của triều đinh nhà Nguyễn và sự giàu đẹp của đất nước. Ðiều đó được thể hiện rất rõ trong việc đặt tên gọi cũng như tầm vóc và các hoa văn chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Mỗi đỉnh có khắc một tên riêng bằng chữ Hán, lấy từ miếu hiệu (tên để thờ cúng) của một vị vua nhà Nguyễn. Và cái đỉnh đó được xem là biểu tượng của vị vua đó. Cao Ðỉnh (vua Gia Long) ở vị trí chính giữa, Ðỉnh hai bên trái phải lần lượt là: Nhân Ðỉnh (vua Minh Mạng), Chương Ðỉnh ( vua Thiệu Trị), Anh Ðỉnh (vua Tự Ðức), Nghị Ðỉnh (vua Kiến Phúc), Thuần Ðỉnh (vua Ðồng Khánh), Tuyên Ðỉnh (vua Khải Ðịnh), Dụ Ðỉnh, Huyền Ðỉnh (chưa tượng trưng cho ông vua nào cả, mặc dù triều Nguyễn còn có 6 vị vua khác).

 

Giá trị của 9 Ðỉnh trước hết ở tầm vóc to lớn và trình độ đúc đồng tinh xảo của các nghệ nhân đúc đồng Huế. Cao Ðỉnh cao 2,5m, nặng 2601kg-là đỉnh cao và nặng nhất. Huyền Ðỉnh cao 2,31m, nặng 1935kg - là đỉnh thấp và nhẹ nhất. Quanh hông đỉnh đều chạm trỗ 17 cảnh vật. Như vậy có tới 153 cảnh vật được chạm nổi trên Cửu Ðỉnh. Ðó là các hình ảnh: núi, sông, trăng, sao, cây cối, hoa, súc vật, vũ khí, xe, thuyền...Có thể xem 153 bức chạm khắc ấy là 153 bức tranh. Ta sẽ thấy sông Hồng trên Tuyên Ðỉnh, sông Cửu Long trên Huyền Ðỉnh, sông Hương trên Nhân Ðỉnh. Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu. Riêng Cao Ðỉnh được đặt nhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng cho rằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại.

 

Sông Hương

Sông Hương bắt nguồn từ  dãy Trường Sơn hùng vĩ, hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch hợp  lưu nơi ngã ba Tuần (dân gian còn gọi Bảng Lảng), từ đây sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, Ngọc Trản, chuyển Tây Bắc, uốn quanh bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, xuôi về phía Ðông Bắc, lặng lẽ trôi về Huế trong dư vang của Trường Sơn, đi qua chốn yên giấc ngàn thu của các vua Nguyễn. Dòng sông mềm như tấm lụa, sắc nước xanh thẳm, tiếp tục cuộc hành trình  đi qua Cồn Hến và những làng quê yên ả, qua ngã ba Sình mảnh đất thủ phủ Châu Hóa xưa rồi đổ ra phá Tam Giang hòa vào lòng biển cả.

 

Dòng sông trắng-Lá cây xanh, Sông Hương như "thanh kiếm bạc dựng giữa trời xanh". Biết bao tao nhân mặc khách lênh đênh trên quãng sông này với một "phiến trăng sầu" "Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu..." Sông Hương quả là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Huế. Và nếu bỗng dưng Sông Hương biến mất, thành phố vẫn còn, thì có còn ai buồn nhắc đến Huế nữa không.

 

Núi Ngự Bình

Cùng với Sông Hương, núi Ngự Bình là biểu tượng tuyệt vời của Huế. Người ta vẫn gọi Huế là miền Hương Ngự. Núi Ngự Bình chỉ cao 105m. trước năm 1802 gọi là Bằng Sơn. Vua Gia Long chọn Bằng Sơn làm tiền án của Kinh Thành và đặt tên mới là Ngự Bình. Ngày xưa cũng như bây giờ, núi Ngự Bình rợp bóng thông xanh là nơi thưởng ngọan cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Ðứng trên đỉnh núi, có thể nhìn thấy sông nước, cỏ cây, cung điện, chùa chiền, lăng tẩm, đất trời tươi đẹp Huế, và xa hơn là dãi Trường Sơn trùng trùng điệp điệp, là biển Ðông xanh ngắt một màu.

 

Chùa Thiên Mụ

Cách trung tâm Thành phố khoảng 5 km về phía Tây, chùa Thiên Mụ (hay Linh Mụ) tọa lạc trên một ngọn đồi không cao lắm, mặt chính hướng ra sông Hương. Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1601, thời chúa Nguyễn Hoàng và đã được tu sửa nhiều lần. Những công trình chính của Chùa có điện Ðại Hùng, đình Hương Nguyện, tháp Phước Duyên (bảy tầng, cao trên 21m, mỗi tầng thờ một vị Phật tổ), Ðại hồng chung (cao 2,50m, nặng trên 2.000kg) ...Hiện nay chùa vẫn còn bảo lưu nhiều di vật rất quí của những thế kỷ trước. Chùa Linh Mụ xứng đáng là một danh lam cổ tự vào bậc nhất của cả nước.

 

Lăng tẩm các vua triều Nguyễn

Cách đây 80 năm, một người phương Tây, Ph.Eberhard đã viết:  Huế là một trung tâm du lịch hấp dẫn, nơi có kinh thành, hoàng thành và lăng tẩm, có sức cuốn hút sự chú ý đặc biệt đối với du khách và các nhà mỹ thuật. Chỉ riêng lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn không thôi cũng đủ có giá trị đối với cuộc du lịch rồi Triều Nguyễn (1802-1945) có đến 13 vua, nhưng vì những lý do lịch sử phức tạp khác nhau, nên hiện nay ở Huế chỉ có 7 khu lăng tẩm do triều đình xây dựng.

 

Ðó là các lăng vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức (ở đây còn có lăng mộ vua Kiến Phúc), Dục Ðức (ở đây còn có mộ hai vua Thành Thái, Duy Tân), Ðồng Khánh và Khải Ðịnh. Theo ý đồ quy hoạch kiến trúc kinh đô nhà Nguyễn vào đầu thế kỷ XIX, các khu lăng tẩm ấy nằm trong một vùng khá riêng biệt ở phía Tây Huế.

 

Kiến trúc cung đình nhà Nguyễn rất tuân thủ các nguyên tắc phong thủy. Lăng tẩm nào cũng phải theo đúng những quy luật liên quan đến các thực thể địa lý thiên nhiên như: sông, núi, ao hồ, khe suối và nhất là  huyền cung   ở trung tâm điểm của mặt bằng kiến trúc phải tọa lạc đúng long mạch. Bố cục mặt bằng khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính: phần lăng và phần tẩm.

 

Khu vực lăng là khu vực chôn thi hài nhà vua, khu vực tẩm là chỗ xây nhiều miếu, điện, lầu gác, đình, tạ,... để nhà vua lúc còn sống thỉnh thoảng rời hoàng cung lên đây tiêu khiển. Chính vì vậy, mỗi lăng tẩm Huế, chẳng những là di tích lịch sử văn hóa mà còn là một thắng cảnh, một đóa hoa nghệ thuật kiến trúc giữa chốn núi đồi xứ Huế. Vì lăng tẩm Huế có được những giá trị văn hóa nghệ thuật cao như thế nên ngày từ năm 1957, trong quyển  Les Merveilles du Monde được Viện sĩ Hàn lâm Pháp Jean Cocteau đề tựa, một nhóm gồm 15 tác giả phương Tây xếp lăng tẩm các vua nhà Nguyễn vào hàng kỳ quan của thế giới.

 

Lăng Tự Ðức (Khiêm lăng)

Lăng được dựng ở hữu ngạn sông Hương, trên núi Dương Xuân, làng Dương Xuân Thượng (cách Huế chừng 8 km), giữa một rừng thông bát ngát. Khởi công năm 1864, hoàn thành năm 1867, trên khoảng diện tích 475 ha. Toàn bộ lăng được bao quanh bằng một bức tường dày uốn lượn theo địa hình đồi núi. Kiến trúc trong lăng ngoài những yếu tố cần thiết của một lăng còn có những công trình kiến trúc phù hợp với nơi ở của vua Tự Ðức.

 
 

Lăng Khải Ðịnh (ứng lăng)

Lăng được xây dựng từ 1920 đến 1931, trên đỉnh núi Châu £, cách Huế 10 km. Nếu các lăng khác được dựng trên một vùng núi non trập trùng rộng hàng trăm héc ta, thì lăng Khải Ðịnh như một toà lâu đài đồ sộ xây bên triền núi. Từ dưới chân núi lên tới Tẩm điện, qua 109 bậc. Vật liệu xây dựng lăng Khải Ðịnh chủ yếu là sắt thép bê tông và sành sứ. Nét nổi bật trong lăng Khải Ðịnh chính là nghệ thuật khảm sành, sứ trang trí lộng lẫy trên mặt tường, cột nhà và trần nhà. Ðây là sự kết hợp giữa hai nền kiến trúc, văn hoá Ðông - Tây rất tinh xảo.

 

Tôm chua Huế 

Huế có nhiều món ăn đặc sản. Tôm chua là một trong những món đặc sản được biết đến nhiều nhất. Ðó không phải là một thứ cao lương mỹ vị nhưng cũng không phải là một món ăn hiểu theo nghĩa thông thường, nghĩa là tự nó không thể làm nên một bữa ăn hấp dẫn mà phải cần thêm nhiều thứ khác nữa như: thịt heo ba chỉ, giá chua, rau sống, bún hoặc cơm.

 

Người Huế biết nhiều cách làm mắm từ những loại thủy, hải sản như: mắm nêm, mắm thính, mắm cà, mắm tôm... Tôm chua cũng là một thứ mắm, nhưng là một thứ mắm quý tộc. Nguyên liệu để làm tôm chua thường  là tôm nước ngọt, dân Huế quen gọi là tôm đất. Người ta thường dùng loại tôm không quá lớn cũng không quá nhỏ mà nên lựa loại tôm đều nhau. Con tôm mua về, cắt bỏ phần râu, ngâm trong nước có hòa phèn chua chừng năm bảy phút, vớt ra xả sạch, rồi lại ngâm vào rượu trắng cho đến khi mùi rượu bay hết lại vớt ra vắt cho ráo nước. Củ riềng thái chỉ, cùng ớt trái và tỏi xắt lát, đem trộn đều với tôm rồi cho tất cả vào hũ, gài chặt. Sau đó thắng riêng nước mắm loại ngon với đường cát, thêm tí bột ngọt, đổ vào hũ cho ngập hết phần tôm kia. Ðem hũ tôm phơi nắng chừng ba ngày, rồi để vào nơi thoáng mát. Chừng năm ngày sau hũ tôm kia hóa màu đỏ au và trở thành món tôm chua rất ngon với một hương vị khá đặc biệt...

 

Khi ăn, giã một ít tỏi với ớt trái, cho tôm chua vào, trộn đều. Thịt heo ba chỉ luộc chín, thái mỏng vừa phải. Kèm thêm một dĩa rau sống gồm chuối chát, khế chua, quả vả thái mỏng, thêm ít cải con, giá sống, xà lách... và một dĩa dưa giá muối chua cùng với lá kiệu. Như vậy cũng đủ tạo nên hương vị hấp dẫn của một món ăn ngon, có thể ăn kèm với bún hay cơm. Cái vị chua chua, mằn mặn, cay cay của món tôm chua, vị chát của chuối xanh và trái vả, vị chua của khế... khiến cho thịt heo không còn quá béo. Một chén rượu gạo trắng làng Chuồn, uống vào thường dư vị ngọt nơi cổ sẽ là lý tưởng cho món thịt heo khi ăn cùng với tôm chua.

 

Chè sen xứ Huế 

Món chè sen bọc nhãn lồng xứ Huế đã nổi danh khắp chốn xưa nay. Chè có vị thơm dịu mát của sen, vị ngọt thanh của cùi nhãn, ăn một lần không thể nào quên. Hột sen nấu chè theo kiểu Huế thường là hột sen tươi, vẫn còn nhựa và thơm mùi lá mới. Nếu là hột sen khô thì thường được rửa và ngâm với nước lạnh rất ít người đem ngâm nước tro hay một chất khác pha vào. Có lẽ vì người Huế sợ sen bị mất đi vị thơm nguyên chất vì "Sen không hương như cá ươn ngoài chợ, như trai ế vợ, như gái góa lỡ thời...".

 

Hột sen nấu chè theo kiểu Huế được đem hấp chín, sau đó nấu chung với nước đường cát trắng hay đường phèn trong vắt cho đến khi sôi nhẹ. Vị ngọt của đường đủ thấm vào hột sen là bắc ra ngoài bếp. Để được nồi chè ngon, người nấu phải túc trực canh chừng để lửa cháy vừa phải, tay khuấy, trộn thật nhẹ nhàng, thời gian cũng chỉ vừa đủ để hạt sen "không già, không non". Nấu già, hột sen sẽ mất hương thơm tự nhiên. Nấu non, hương sen sẽ không tỏa ngát. Hương sen dịu mát tự nhiên là thứ "bùa mê" của chè sen xứ Huế mà không hương liệu nhân tạo nào thay thế được.

 

Hình thức thăng hoa nhất của chè sen là chè hột sen bọc nhãn lồng. Hột sen mầu trắng ngà, kết hợp với mầu trắng trong của thịt nhãn (còn gọi là nhãn nhục) tạo ra một mầu sắc rất dịu, hài hòa và thanh khiết. Hột sen chín bở được gói trong nhãn nhục mềm mại, giòn tan, hợp với sở thích và khẩu vị của nhiều lứa tuổi.

 

Chè sen bọc nhãn lồng xứ Huế ngon nhất là chè sen hồ Tịnh Tâm bọc nhãn lồng Thành Nội. Hồ Tịnh Tâm nằm phía đông bắc Hoàng Thành. Cách đây hàng trăm năm đã nổi tiếng là nơi trồng sen nhiều nhất, hoa sen đẹp nhất và hạt sen thơm ngon đậm đà nhất của kinh thành Huế. Hạt sen hồ Tịnh, cùng với nhiều món ăn nổi tiếng khác của xứ Huế, đã trở thành những món quà quê hương, đại diện cho vùng đất luôn bàng bạc thơ văn và nhạc họa này, giống như chè Thái Nguyên, trà Đà Lạt, cà-phê Buôn Ma Thuột, mè sửng Song Hỷ, mực thước Tư Hiền, tôm khô Rạch Giá... Nhãn lồng được trồng bên những con đường chung quanh Đại Nội, đến mùa kết trái được lồng trong mo cau và gói lài cẩn thận. Có hai loại là nhãn ướt và nhãn ráo. Nhãn ướt mọng nước và thịt mềm. Nhãn ráo giòn nhưng thịt dày và hột nhỏ. Nhãn dùng bọc hạt sen ngon nhất là nhãn ráo. Hột nhãn lồng Thành Nội nhỏ nhắn và vừa vặn với hột sen hồ Tịnh. Do vậy, một người khéo tay với mỗi trái nhãn lồng Đại Nội vừa lột vỏ, có thể lấy hạt ra và thay bằng một hột sen hồ Tịnh, lành lặn và tự nhiên như thuở chưa "thay chàng đổi thiếp”.

 

Nhãn lồng bọc trong hột sen hấp chín sẽ được đổ vào chung với nước đường cát trắng hay đường phèn để nguội. Quả nhãn đã ra đời, lớn lên rồi già và chín từ trong trái nên chẳng cần gia cố gì thêm. Và thế là, mùi thơm ngọt dịu mát của sen, của nhãn lồng, của đường phèn hòa chung nước mát đã hòa lẫn, thăng hoa để làm nên một cốc chè đầy sức hấp dẫn. Ai một lần đến Huế cũng nên một lần thưởng thức, và chắc chắn sẽ không thể lãng quên.

 

Sinhcafe Hanoi chúc Bạn một chuyến du lịch vui vẻ !

Đặt Tour Trực Tuyến | Liên Hệ

SINHCAFE HANOI

E-mail: info@sinhcafehn.com

Tel: (+84.4) 3747 8557 - 3747 3838 * Fax: (+84.4) 3747 8556.

Hotline: (+84) 988 757 689 - 942 209 689.

Opening Hours ( GMT+0700 )

Mon - Sat: 08:00 A.M - 06:30 P.M

Sunday: 8:00 A.M - 13:00 P.M

 
Trở lại trang trước Gửi cho bạn bè Bookmark & Share In trang này Số lần xem:3443

Gửi cho bạn bè

Email người gửi
Email người nhận
Tiêu đề
Nội dung

  Các chương trình liên quan:
Du lịch Miền Trung: Huế - Hội An - Mỹ Sơn, 5 ngày
( Huế là một trong những vùng có nhiều di sản văn hoá. Ðến nay, không còn một vùng nào có một số lượng lớn các di tích mà những di tích này vẫn giữ được hình dạng vốn có của nó như ở cố đô này...Huế đồng thời còn là ...)
Du lịch Miền Trung: Huế - Động Thiên Đường, 3 ngày
( Động Thiên Đường một kỳ tích trong lòng Di sản thiên nhiên Thế giới vườn Quốc gia Phong Nha Kẽ Bàng. Nằm ở độ cao 360m so với mực nước biển, Động Thiên Đường được ví như: Vườn địa đàng ở chốn trần gian đã được ...)
Du lịch Miền Trung: Huế - Động Phong Nha, 3 ngày
(Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng của tạo hoá đã ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy với ...)
Du lịch Miền Trung: Động Phong Nha - Sunspa Resort, 3 ngày
(Năm 2003, Phong Nha Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới - Di sản thế giới thứ 5 của Việt Nam. Diện tích của vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình - Việt Nam khoảng 400ha. Quần thể ...)
Du lịch Miền Trung: Du lịch Thăm Lại Chiến Trường Xưa, 3 ngày
( Nằm giữa “khúc ruột miền Trung” - nơi có mật độ khá dày đặc các di sản thế giới, người Quảng Trị vẫn có thể tự hào với một “vỉa” du lịch khá nổi tiếng, lại rất đặc biệt vì không thể tìm thấy ở bất ...)
Du lịch Miền Trung: Tour di sản miền Trung, 5 ngày
(“Con đường di sản miền Trung” sẽ kết nối du khách với các di sản vật thể và phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận bao gồm: Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; cố đô Huế với hai di sản là Quần thể ...)
Du lịch Miền Trung: Đà Nẵng - Furama resort - Hội An - Huế, 4 ngày
(Thật khó có thể tìm được sự yên bình trong thế giới luôn ồn ào và đầy biến động hiện nay. Thật khó để có được thời gian để chăm sóc cho nhau. Hãy thử tách mình ra khỏi sự bon chen hằng ngày ấy, thưởng cho riêng mình một ...)
Du lịch Miền Trung: Du Lịch Nha Trang, 4 ngày
( Nha Trang vùng đất cát trắng, dương xanh có biển, có đảo, có núi, có đồng bằng hợp thành một địa hình rất đẹp mắt và thuận lợi cho du lịch. Vùng phía Tây Nha Trang là đồi núi bạt ngàn với những đỉnh cao trên dưới 1000m, có nhiều ...)
Du lịch Miền Trung: Du lịch Nha Trang - Đà Lạt, 5 ngày
(Vui cùng sóng biển Nha Trang và sảng khoái khi tắm khoáng nóng, để gạt bỏ những điều không mong muốn của cuộc sống. Đến Phan Rang thăm tháp Poklong Garai, vị “vua – thần” mang lại điều may mắn thịnh vượng. Vượt đèo Ngoạn Mục, con đường ...)
Du lịch Miền Trung: Du lịch Đà Lạt, 4 ngày
(Dường như mỗi cảnh quan, mỗi điểm du lịch ở Đà Lạt đều gắn với một truyền thuyết, huyền thoại... Huyền thoại về núi Langbiang từ lâu trở thành "nơi không thể không đến" của bao lữ khách khi đặt chân đến vùng đất cao nguyên này. Vẻ đẹp, sức ...)
 
     
Thông tin tổng hợp
Giới thiệu công ty  -  Hướng dẫn đặt Tour  -  Hỏi đáp du lịch  -  Ngân hàng   -  Thời tiết   -  Giải trí - VNT Thiết kế website

Sinhcafe Hanoi - Impression by Belief !

Tại Hà Nội

:

Số 4 Ngõ 38B, Lý Nam Đế, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại

:

84.4.3747 8557 - 3747 3838 * Fax: +84.4.3747 8556

Hotline

:

84. 988 757 689 - 942 209 689. / Email: info@sinhcafehn.com  

Tại Sapa

:

Số 31 Thạch Sơn, Thị Trấn Sapa, Lào Cai.

Điện thoại

 

84.984766301 - Mr Khánh / Email: sapa@sinhcafehn.com

Tại TP. Hồ Chí Minh

 

Số 172 Bùi Viện, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

Điện thoại

:

84.903733713 - Ms Châu / Email: saigon@sinhcafehn.com

Website

:

www.sinhcafehn.com (Tiếng Việt) * www.vietnamclassictour.com (Tiếng Anh)

www.facebook.com/hanoisinhcafe * www.twitter.com/sinhcafehanoi

Ghi rõ nguồn " www.sinhcafehn.com " khi bạn phát lại thông tin từ website này. DMCA.com Protection Status




Thiết kế bởi VNT.,Tech