Trang chủ
Du lịch Nước Ngoài
Trung Quốc đường bộ
 
 
Thanh toán an toàn với Bảo Kim !
[Hướng dẫn thanh toán]

NAM NINH - THÀNH ĐÔ - ĐÀI PHẬT LẠC SƠN

NGA MY SƠN - Hà Nội

Thời gian: 9 Ngày 8 Đêm, bằng đường bộ & sử dụng Hộ Chiếu

Núi Nga Mi là một trong bốn núi Phật giáo nổi tiếng Trung Quốc. Việc truyền bá Phật giáo, xây dựng chùa chiền cũng như sự phồn vinh của nó đã làm tăng thêm nhiều màu sắc thần kỳ cho núi Nga Mi. Nền văn hóa tôn giáo, đặc biệt là nền văn hóa Phật giáo đã cấu thành chủ thể của lịch sử và văn hóa núi Nga Mi, tất cả các vật kiến trúc, các tượng, vật dùng để niệm kinh, cũng như lễ giáo, âm nhạc, hội họa ở đây đều thể hiện không khí văn hóa tôn giáo đậm đà. Trên núi Nga Mi san sát những ngôi chùa. Trong số tám chùa lớn Kim Đỉnh thì chùa Báo Quốc, chùa Vạn Niên là nổi tiếng nhất.

Tượng Phật Lạc Sơn nằm trên ngọn Thê Loan dưới chân núi Nga Mi về phía đông, xưa gọi là Đại tượng Mi Lạc, Đại Phật Gia Định. Đại Phật bắt đầu được tạc vào đầu năm Khai nguyên thời nhà Đường (năm 713), trong suốt 90 năm mới hoàn thành. Tượng phật được tạc dựa vào vách núi và hướng ra sông Lâm Giang, là pho tượng Phật tạc trên vách đá lớn nhất trên thế giới, được ví “núi là một pho tượng, Phật là một ngọn núi”. Đây là pho tượng phật ngồi Mi lạc, tọa đông hướng tây, nét mặt đoan trang, tổng chiều cao 71 mét. Phật được khắc chạm tinh xảo, đường nét lưu loát, tỷ lệ thân Phật cân đối, khí thế hùng vĩ, thể hiện nền văn hóa quảng đại của thời thịnh Đường. Hai bên vách núi của tọa Phật, còn có hơn 20 khám tượng phật đá của thời nhà Đường, trong đó có nhiều pho rất công phu đẹp mắt.

Giá dành cho 01 thành viên: 1.052USD

Lưu ý: Giá áp dụng cho khách lẻ & khởi hành trong Tháng

 - Du lịch Nam Ninh - Trịnh Châu - Khai Phong - Lạc Dương - Tây An - Quyế Lâm 8 Ngày

 - Du lịch Nam Ninh - Thượng Hải - Tể Nam - Núi Thái Sơn - Bắc Kinh 12 Ngày

  Ngày

Chi tiết tour

Hình ảnh

Ngày 01

Nam Ninh                                         Ăn: T/C

06h00: ô tô và hướng dẫn viên quý khách tại điểm hẹn, khởi hành đi Nam Ninh. Tới cửa khẩu Hữu Nghị Quan, đoàn làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc. Ăn trưa tại Bằng Tường, sau đó đoàn tiếp tục đi Nam Ninh.

15h30: Tới Nam Ninh, quý khách nhận phòng khách sạn, tự do nghỉ ngơi hoặc đi mua sắm. Đoàn ăn tối và nghỉ đêm tại khách sạn.

 

Ngày 02

Nam Ninh - Thành Đô                    Ăn: S/ T/ C

07h00: quý khách ăn sáng, ra sân bay khởi hành đi Thành Đô. Đến Thành Đô quý khách về khách sạn nhận phòng, ăn trưa. Chiều thăm Vũ Hầu Tự - ngôi chùa thờ các vị anh hùng trong thời Tam Quốc.. Ăn tối và nghỉ đêm tại Thành Đô.

 

Ngày 03

Thành Đô - Cửu Trại Câu              Ăn: S/ T/ C

Sau bữa sáng, xe đưa quý khách đi Cửu Trại Câu từ Thành Đô qua các tỉnh: Văn Xuyến, Mao Huyện, Tùng Phan. Trên đường đi quý khách được tận mắt chứng kiến phong cảnh của vùng thượng du Minh Giang, ngắm cảnh hồ Yên Tắc - hồ Điệp Khê được hình thành trong trận động đất năm 1933, thăm cung Càng Lĩnh. Quý khách ăn tối và nghỉ đêm tại Trại Câu.

 

Ngày 04

Tham quan Cửu Trại Câu             Ăn: S/ T/ C

Sau bữa sáng, xe chuyên dụng đưa quý khách đi Cửu Trại Câu - di sản thiên nhiên thế giới, nét đặc biệt của Cửu Trại Câu là cảnh nước hồ biến chuyển màu sắctheo chuyển hoá của thiên nhiên, quý khách sẽ được ngắm cảnh các hồ Hổ, Hoa Lửa, Ngọc Hổ, quần hồ Thụ Chính, thác Nhược Nhật Lang, bãi Trân Châu. Quý khách nghỉ đêm tại Cửu Trại Câu.

 

Ngày 05

Cửu Trại Câu - Thành Đô - Đài Phật Lạc Sơn - Nga Mi Sơn    

Sau bữa sáng, đoàn khởi hành đi thăm Đài Phật Lạc Sơn, quý khách ngồi thuyền thăm tượng Phật ngồi - bức tượng được đục và hình thành trong suốt hơn 90 năm. Quý khách ăn tối và nghỉ đêm tại khách sạn

 

Ngày 06

Nga Mi Sơn - Thành Đô                 Ăn: S/ T/ C

Quý khách ăn sáng, sau đó trở về Nga Mi Sơn, thăm Kim Đỉnh ( lên và xuống bằng xe cáp treo), thăm Báo Quốc Tự, chùa Hoa Tăng, Thanh Âm Các. Chiều quý khách quay trở về Thành Đô. Quý khách ăn tối với món lẩu Tứ Xuyên nổi tiếng. Nghỉ đêm tại khách sạn.

 

Ngày 07

Thành Đô - Nam Ninh                    Ăn: S/ T/ C

Sau bữa sáng, quý khách ra ga về Nam Ninh (Tàu khởi hành lúc 08h52). Đoàn ăn các bữa và nghỉ đêm trên tàu.

 

Ngày 08

Nam Ninh                                          Ăn: S/ T/ C

19h37: Tàu đến ga Nam Ninh, đoàn về khách sạn nghỉ. Tự do đi chợ đêm mua sắm.

 

Ngày 09

Nam Ninh - Hà Nội                           Ăn: S/ T

07h30: quý khách ăn sáng, sau đó quý khách lên xe về Bằng Tường. Ăn trưa tại Bằng Tường, quý khách ra cửa khẩu làm thủ tục nhập  cảnh về Việt Nam.

18h30: Về tới Hà Nội, chuyến đi kết thúc. Tạm biệt và hẹn gặp lại.

 

Dịch vụ tour bao gồm:

  • Thủ tục xuất nhập cảnh 2 nước & phí cửa khẩu - phí kiểm dịch.

  • Xe đưa đón và tham quan theo chương trình

  • Tầu 01 lượt chặng Thành Đô - Nam Ninh

  • Khách sạn 3 sao trung tâm 02 khách/ phòng, Tivi, Điều Hòa, Bình Nóng Lạnh.

  • Các bữa ăn theo kiểu Trung Quốc (08 Món chính + Cơm & Canh).  

  • Phí thắng cảnh tại các điểm tham quan.

  • Hướng dẫn song ngữ Việt - Trung kinh nghiệm và nhiệt tình.

  • Bảo hiểm du lịch suốt tuyến mức 10.000USD/khách

  • Nước uống trong những ngày tham quan.

Dịch vụ tour không bao gồm:

  • Phí phòng đơn: 240USD/Khách.

  • Tiền típ hướng dẫn và lái xe: 03USD/khách/Ngày

  • Đồ uống trong các bữa ăn, chi tiêu cá nhân, hành lý quá cước, hóa đơn thuế VAT và phát sinh ngoài chương trình.

Lưu ý chương trình:

  • Giá trên có thể thay đổi theo từng thời điểm trong tháng và các sự kiện xã hội có tại Trung Quốc.

  • Trẻ em từ 2 - 9 tuổi tính 75% giá người lớn. Từ 10 tuổi trở lên tính bằng giá người lớn.

  • Quý khách chuẩn bị 05 ảnh 4x6cm phông nền trắng, CMND bản gốc hoặc hộ chiếu.

  • Tham dự khách đoàn, vui long chuẩn bị danh sách và các giấy tờ liên quan tới chuyến di

  • Với trẻ em có giấy xác nhận theo tờ khai hải quan và giấy khai sinh có công chứng.

  • Các dịch vụ đã tham dự và sử dụng một phần thì không được hoàn trả lại phí.

  • Đăng ký chương trình trước 10 ngày với khách lẻ và 20 ngày với khách đoàn.

  • Phụ trách chương trình: 04.3747 8557 * 0988757689.

NÚI NGA MY & ĐẠI PHẬT LẠC SƠN

Núi Nga Mi và Đại Phật Lạc Sơn: Núi Nga Mi được ví là núi tiên nước Phật, sự kết hợp hoàn hảo giữa phong cảnh tự nhiên tươi đẹp và nội hàm văn hóa lịch sử lâu đời Trung Quốc, là “Nga Mi thiên hạ tú” (Nga Mi đẹp thiên hạ). Núi Nga Mi, còn gọi là Đại Quang Minh sơn, nằm ở miền trung nam tỉnh Tứ Xuyên (miền Tây Nam Trung Quốc), trên khu vực quá độ của lòng chảo Tứ Xuyên theo hướng cao nguyên Thanh Tạng. Đỉnh Vạn Phật là ngọn núi cao nhất của núi chính Kim Đỉnh, có độ cao 3.099 m so với mặt biển.

 

Núi Nga Mi là nơi tập trung nhiều loại yếu tố tự nhiên. Tại đây các thành phần trong hệ thống của khu vực phức tạp, chủng loại sinh vật phong phú, hệ thống thảm thực vật á nhiệt đới được bảo tồn hoàn chỉnh, tỷ lệ thảm rừng lên tới 87%. Núi Nga Mi có 242 giống thực vật cấp cao, 3.200 giống cây, chiếm 1/10 tổng số loài thực vật Trung Quốc, trong đó có hơn 100 giống thực vật là đặc sản hoặc được phát hiện trên núi Nga Mi, đồng thời lấy hai chữ Nga Mi để đặt tên cho chúng. Ngoài ra, núi Nga Mi còn là nơi cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm, có hơn 2.300 loài động vật đã được biết đến. Núi Nga Mi là nơi quan trọng có ý nghĩa đặc biệt trong việc nghiên cứu hệ thống khu vực sinh vật của thế giới.

 

Núi Nga Mi là một trong bốn núi Phật giáo nổi tiếng Trung Quốc. Việc truyền bá Phật giáo, xây dựng chùa chiền cũng như sự phồn vinh của nó đã làm tăng thêm nhiều màu sắc thần kỳ cho núi Nga Mi. Nền văn hóa tôn giáo, đặc biệt là nền văn hóa Phật giáo đã cấu thành chủ thể của lịch sử và văn hóa núi Nga Mi, tất cả các vật kiến trúc, các tượng, vật dùng để niệm kinh, cũng như lễ giáo, âm nhạc, hội họa ở đây đều thể hiện không khí văn hóa tôn giáo đậm đà. Trên núi Nga Mi san sát những ngôi chùa. Trong số tám chùa lớn Kim Đỉnh thì chùa Báo Quốc, chùa Vạn Niên là nổi tiếng nhất.

 

Tượng Phật Lạc Sơn nằm trên ngọn Thê Loan dưới chân núi Nga Mi về phía đông, xưa gọi là Đại tượng Mi Lạc, Đại Phật Gia Định. Đại Phật bắt đầu được tạc vào đầu năm Khai nguyên thời nhà Đường (năm 713), trong suốt 90 năm mới hoàn thành. Tượng phật được tạc dựa vào vách núi và hướng ra sông Lâm Giang, là pho tượng Phật tạc trên vách đá lớn nhất trên thế giới, được ví “núi là một pho tượng, Phật là một ngọn núi”. Đây là pho tượng phật ngồi Mi lạc, tọa đông hướng tây, nét mặt đoan trang, tổng chiều cao 71 mét. Phật được khắc chạm tinh xảo, đường nét lưu loát, tỷ lệ thân Phật cân đối, khí thế hùng vĩ, thể hiện nền văn hóa quảng đại của thời thịnh Đường. Hai bên vách núi của tọa Phật, còn có hơn 20 khám tượng phật đá của thời nhà Đường, trong đó có nhiều pho rất công phu đẹp mắt.

 

Núi Nga Mi (bao gồm tượng đại phật Lạc Sơn) có vị trí địa lý đặc biệt, cảnh quan tự nhiên hùng vĩ tươi đẹp và thần kỳ, bộ mặt địa chất của nó rất điển hình, môi trường sinh thái được bảo hộ rất nguyên vẹn, đặc biệt là núi này nằm trên dải đất kết hợp và quá độ của hệ thống khu vực sinh vật thế giới, có tài nguyên động thực vật phong phú, có đặc điểm mang tính khu vực rất rõ nét, các loài động thực vật qúy hiếm trong nguy cơ diệt chủng rất nhiều. Gần 2.000 năm qua, núi Nga Mi là nơi sáng tạo và tích lũy di sản văn hóa phong phú, mang đặc trưng chủ yếu của tôn giáo. Di sản thiên nhiên và văn hóa của núi Nga Mi có giá trị rất cao về lịch sử, mỹ học, nghiên cứu khoa học, phổ biến khoa học và thăm quan du lịch, là của cải chung của toàn nhân loại. Núi Nga Mi và đại phật Lạc sơn được đưa vào danh mục Di sản thế giới năm 1996.

 

Hang đá Vân Cương ở Trung Quốc: Trong hang hiện còn lại 45 động chính, 252 khám động lớn nhỏ, 51.000 pho tượng đá. Đường nét điêu khắc trên thân cột tháp rất tinh xảo và tỉ mỉ, đã kế thừa tinh hoa nghệ thuật hiện thực của thời nhà Tần và thời nhà Hán (221 TCN - 220).

 

Hang đá Vân Cương nằm ở phía Nam chân núi Vũ Châu, cách thành phố Đại Đồng (tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc) 16 km về phía tây. Hang bắt đầu được đục khắc vào năm thứ hai Hưng An thời Bắc Ngụy (năm 453), hoàn thành vào năm 494, trước khi triều đình Bắc Ngụy rời đô đến Lạc Dương. Công trình tạc tượng kéo dài cho mãi đến giữa những năm Chính Quan (từ năm 520 đến năm 525) mới hoàn thành. Hang đá đục tạc theo sườn núi, dài khoảng một km từ đông sang tây, nội dung phong phú, khí thế hoành tráng. Pho tượng cao nhất 17 m, tượng nhỏ nhất chỉ vài cm. Các pho tượng Bồ tát, lực sĩ, Phi thiên rất sinh động và hoạt bát. Hang đá Vân Cương cùng với hang Mạc Cao Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc và Hang đá Long Môn tỉnh Hà Nam được coi là ba hang đá lớn Trung Quốc, là một trong những kho tàng nghệ thuật khắc đá quý giá nổi tiếng trên thế giới.

 

Tạo hình của hang đá Vân Cương rất hùng vĩ, nội dung phong phú và đa dạng, có thể coi là một công trình nghệ thuật khắc đá hàng đầu của thế kỷ thứ 5 Trung Quốc, và là kho báu nghệ thuật điêu khắc thời cổ. Căn cứ vào thời gian khai quật, có thể chia làm ba thời kỳ là thời kỳ đầu, thời kỳ giữa và thời kỳ sau. Các tượng trong hang được điêu khắc vào các thời kỳ khác nhau thì phong cách tạo hình cũng khác nhau. Năm hang Đàn Diệu được tạc vào thời kỳ đầu có khí thế bàng bạc, phong cách hang mang vẻ chất phác, mộc mạc của khu vực miền tây. Hang đá được tạc khắc vào thời kỳ giữa nổi tiếng bởi đường nét tỉ mỉ, trang phục của tượng sang trọng, thể hiện phong cách nghệ thuật phức tạp thay đổi khôn lường, hoành tráng lộng lẫy của thời Bắc Ngụy. Vào thời kỳ sau, quy mô của hang tuy nhỏ hẹp hơn, song các tượng người trong hang có thân hình nhỏ nhắn thanh tú, tỷ lệ cân đối, là tấm gương nghệ thuật hang đá và là nguồn gốc hình tượng “gầy guộc thanh tú” của các tượng trong hang đá miền bắc Trung Quốc. Ngoài ra, trong hang đá còn giữ lại các pho tượng có các động tác ca múa đàn hát, đóng kịch diễn xiếc, thể hiện lưu hành tư tưởng Phật giáo và phản ánh đời sống xã hội của thời Bắc Ngụy.

 

Hình tượng của các nhân vật trong hang đá Vân Cương đã ghi lại vết tích lịch sử của nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ và Trung Á, phát triển thành nghệ thuật phật giáo Trung Quốc, phản ánh quá trình nghệ thuật tạc tượng Phật giáo Trung Quốc. Nhiều phong cách tạo hình của nghệ thuật Phật giáo trong hang Vân Cương đã có sự hoà nhập và hội tụ chưa từng có, do vậy mà hình thành “mô thức Vân Cương” và trở thành bước ngoặt phát triển nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc. Các tượng đá trong Hang Mạc Cao Đôn Hoàng và hang đá Long Môn của thời Bắc Ngụy đều chịu ảnh hưởng khác nhau của hang đá vân Cương. Cụm hang Vân Cương là sự khởi đầu của nghệ thuật hang đá được Trung Quốc hóa. Hang đá Vân Cương của thời kỳ giữa đã xuất hiện những điêu khắc về kiến trúc của các cung điện Trung Quốc và trên cơ sở này phát triển thành những khám tượng Phật mang phong cách Trung Quốc, trong các kiến trúc chùa hang đá về sau đều được ứng dụng rộng rãi. Bố cục và trang trí trong các hang ở thời kỳ sau của hang đá Vân Cương thể hiện một cách nổi bật phong cách kiến trúc và trang trí của Trung Quốc.

 

Cụm hang đá Vân Cương đã được đưa vào Danh mục di sản thế giới vào tháng 12/2001. Ủy ban Di sản thế giới đánh giá: “Hang đá Vân Cương nằm ở thành phố Đại Đồng tỉnh Sơn Tây, đại diện cho nền nghệ thuật hang đá Phật giáo xuất sắc của Trung Quốc từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 6. Trong đó năm hang Đàn Diệu có bố cục nghiêm túc và thống nhất. Là tác phẩm xuất sắc điển hình của thời kỳ đỉnh cao đầu tiên của nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc”.

 

Tượng Phật Lạc Sơn: Tượng Phật Lạc Sơn là một trong năm tượng Phật lớn tại Trung Quốc có một chiều dài lịch sử hơn 1.200 năm và có những câu chuyện liên quan đến tượng Phật nầy, kể ra nghe rất động tâm và chúng tôi đã có cơ duyên đến đó. Tượng nầy cũng nằm tại tỉnh Tứ Xuyên cách Nga Mi Sơn chừng 50 cây số. Nhiều nhà thơ đời Đường, Tống đã diễn tả độ lớn của tượng Phật nầy bằng câu: Núi là Phật, Phật là núi; như thế đủ biết tượng Phật lớn biết là bao.

 

Tượng nầy do Đại Sư Hải Thông chủ trì xây dựng và tạc nên kể từ năm 713 đến 803 mới xong; nghĩa là 90 năm trời ròng rã. Tượng cao 71 thước và 10 thước bề ngang. Chỉ cái đầu của Đức Phật Di Lặc nầy cũng đã cao đến 14 thước 70 và chân của Ngài dài 11 thước, rộng 5 thước 50. Một trăm người có thể đứng chung quanh tượng được. Đây là tượng đá lâu đời nhất và có thể nói rằng lớn nhất thế giới. Tượng Phật nầy cũng đã được Liên Hiệp Quốc liệt vào di sản văn hóa của thế giới và được bảo trì một cách cẩn thận.

 

Nguyên nhân để tạo nên Đại Phật nầy có một lịch sử như sau: Tại núi Lạc Sơn nầy có 3 dòng sông chảy rất xiết và xoáy mạnh nơi nầy. Đó là sông Dân, sông Đại Độ và sông Thanh Y; nên có không biết bao nhiêu cư dân bị chết chìm nơi đây. Do vậy mà lòng từ bi của Đại Sư Hải Thông lại được thể hiện. Đại Sư đề nghị với quan lại và vua chúa triều đình nhà Đường lúc bấy giờ rằng: Nếu tại đây tạo dựng được một tượng Phật thì dòng nước kia sẽ hiền hòa hơn. Vì có sự gia hộ của chư Phật và chư vị Bồ Tát. Do đó sinh mạng của con người không bị hy sinh nhiều như xưa nay nữa. Đại Sư được triều đình cho phép và dân chúng ủng hộ. Sau thời gian không lâu, Đại Sư đã quyên góp được một số vàng lớn, Ngài dự định chuẩn bị khởi công xây dựng; nói đúng hơn là điêu khắc tượng Phật nầy.

 

Một tin chẳng may đã đến với Đại Sư. Đó là câu chuyện của ông quan sở tại nầy. Vị quan nầy thay vì hỗ trợ cho Đại Sư Hải Thông để sớm đạt thành ước nguyện an dân hộ quốc, thì vị quan lại nầy bảo Đạo Sư Hải Thông phải nộp hết tất cả những tiền và vàng quyên góp được cho ông ta. Khi Đại Sư nghe như vậy cảm thấy bất bình; nhưng Ngài cũng từ tốn trả lời rằng: "Tất cả tiền bạc đây là của tín thí do tôi quyên góp để điêu khắc tượng Đại Phật, do đó tôi không có lý do gì để đưa cho Ngài cả. Nếu ông muốn lấy gì nơi thân thể của tôi thì cứ lấy, chứ tuyệt nhiên tôi sẽ không đưa tiền lạc quyên được cho ông".

 

Sau khi nghe nói như vậy, vị quan nầy tức giận và bảo rằng: Tôi muốn lấy cặp mắt của nhà Sư. Sau khi nghe vậy, Đại Sư Hải Thông vẫn hoan hỷ chịu đựng cho ông quan kia ra lệnh móc mắt và nhà Sư bắt đầu mù từ đó; nhưng công việc khuyến giáo dân chúng để khắc tượng Phật vào núi đá vẫn tiến hành.

 

Khi vua nhà Đường nghe được tin ấy rất cảm động; nên đã đổi vị quan tham ô ấy đi nơi khác và đổi một vị quan Phật Tử đến đây để hộ trì cho Đại Sư Hải Thông xây dựng tượng nầy cho đến lúc hoàn thành. Ngày nay nếu quý vị đi hành hương đến núi Lạc Sơn nầy vào nơi chùa gần tượng Phật, nơi ấy có thờ 3 tượng rất sống động. Tượng ở giữa của Ngài Hải Thông, mang dáng dấp từ bi của một bậc tu hành. Tượng bên trái diễn tả tư cách của một vị quan tham ô và tượng bên phải diễn tả tư cách của một vị quan thanh liêm và có tâm từ hộ đạo. Xa xa phía sau tượng của Ngài Hải Thông là hình ảnh của tượng Đại Phật Di-Lặc tại Lạc Sơn.

 

Đây là một câu chuyện có thật và là mẩu chuyện để chứng minh cho sức mạnh của tâm linh mạnh hơn cả cường quyền và tâm hồn vị tha của Bồ Tát còn được thể hiện ở đây một cách cao thượng hơn. Nghĩa là dầu bất cứ ở một cảnh khổ nào đi nữa, lòng Bồ Tát vẫn không lay động, khi biết rằng mục đích đã định của mình không đi ra ngoài sự phụng sự của nhân sinh. Vì Bồ Tát chỉ sợ nhân chứ không sợ quả; trong khi đó thì chúng sanh chỉ sợ quả chứ không sợ nhân. Đó là điều khác biệt giữa Bồ Tát và chúng sanh vậy. Quả thật thế, sau khi tượng Đại Phật đã được điêu khắc xong thì tai nạn chết người nơi hội tụ của 3 dòng sông nầy không còn nữa. Ý nghĩa thứ nhất vì lý do siêu hình. Đó là sự gia hộ của Đức Di-Lặc; nhưng lý do vật lý cũng có thể dễ hiểu mà thôi. Đó là việc điêu khắc, khi muốn đục sâu vào lòng núi để tạo tượng Phật, dĩ nhiên phải có một khối lượng lớn đá bị thải ra và tất cả đá của núi nầy được trôi vào 3 dòng sông nầy. Nhờ thế mà độ xoáy của dòng sông trở nên hiền hòa hơn và số lượng tử vong lại giảm đi, rồi từ từ hết hẳn. Đó là sự nhiệm mầu của thế giới siêu hình vậy.

 

Phái đoàn mua vé lên thuyền để ra giữa dòng sông tiến đến gần tượng Đại Phật để dễ nhìn. Khi chúng tôi đến gần chân tượng Phật thấy nước vẫn còn xoáy mạnh và từ đây nhìn lên, thấy tại đây cũng như một hòn núi lớn vậy thôi. Nhìn kỹ Ngài, thấy tay Ngài ngồi buông xuống với thế xúc địa ấn; nhưng ở đây nói là tượng Phật Di-Lặc, quả cũng là điều hơi lạ. Vì Đức Phật Di-Lặc ít khi dùng Ấn nầy. Từ trên thuyền người ta cũng nhìn thấy xa xa là những quả núi có dáng hình như Đức Phật đang nằm với tư thế nhập Niết Bàn. Người Trung Quốc gọi là Ngọa Phật. Những hình ảnh như thế nầy tại Ngũ Đài Sơn và Thiếu Lâm Tự cũng đã có những quả núi tương tự như vậy.

 

Tại Trung Quốc có núi cao sông rộng, cảnh đẹp, người đông; nên đây là những yếu tố quan trọng để tạo thành lịch sử của xứ Trung Quốc, nhất là lịch sử Phật Giáo tại xứ nầy. Trên thuyền chúng tôi cũng đã gặp những người đến từ Mỹ, đến từ Pháp và đến từ Ý. Họ là những khách du lịch đến từ tứ phương như chúng tôi vậy và tại đây có mấy cô thông dịch bằng tiếng Anh hỏi tôi tại sao mắt của Phật lại xanh và vòng hào quang lại có 5 màu cũng như đa phần áo của Phật màu vàng mà không có một màu nào khác?

 

Dĩ nhiên là câu trả lời không khó; nhưng điều ấy chứng tỏ rằng chính những người hướng dẫn du lịch cũng chưa hiểu rõ lịch sử Phật Giáo Trung Quốc cũng như những điều đặc biệt nầy thì làm sao những người bình dân Trung Quốc có thể hiểu được.

 

Về mắt xanh - đó là một trong 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Đức Phật. Còn hào quang 5 màu có nghĩa là: tín, tấn, niệm, định, huệ hay đúng hơn là ngũ căn và mỗi màu tượng trưng cho một ý nghĩa như vậy.

Màu xanh tượng trưng cho lòng tin.

Màu vàng tượng trưng cho sự tinh tấn.

Màu đỏ tượng trưng cho sự nhớ nghĩ

Màu trắng tượng trưng cho Thiền Định, sự tập trung tư tưởng.

Màu da cam tượng trưng cho trí tuệ.

Còn màu vàng trên áo và thân thể của Đức Phật tượng trưng cho 2 lần tỏa ngời màu giải thoát nầy. Đó là lúc Đức Như Lai thành đạo và lần thứ 2 trước khi Như Lai vào cảnh vô dư Niết Bàn. Vì lẽ ấy nên các chùa Phật Giáo đều thờ hình ảnh Đức Phật ở tư thế đắp y vàng như vậy.

 

Sau khi cô thông dịch nghe tôi giải thích như thế, cô ta cảm ơn và bảo rằng tại Trung Quốc chẳng biết hỏi ai. Mặc dầu ngày nay người Trung Hoa đi chùa rất đông, mà cảnh đi chùa cũng như đi xem hội, xem một viện bảo tàng, chứ ít ai lưu tâm về vấn đề đạo pháp, mà nếu có đi chăng nữa cũng chỉ là hình thức mê tín như xin xăm, bói toán và cầu nguyện là nhiều. Vì lẽ suốt cả một tuyến đường đi dài 21 ngày như thế, tôi ít gặp một Phật Tử thuần thành. Chỉ một lần duy nhất tại tượng Phật Lạc Sơn nầy, tôi đang chuẩn bị phóng sanh thì có một người tóc đen đến xá tôi và cúng dường một hồng bao. Sau khi hỏi lại thì biết rằng vị nầy đến từ Hồng Kông.

 

Trước khi đi Trung Quốc, Đạo Hữu Diệu Hải Cao Thị Sâm ở Hochdorf có gởi cho tôi một ít tiền để cúng chùa và mua chim, cá để phóng sanh. Tôi đi khắp nơi nhưng chẳng có nơi nào có. Khi đến đây có bán chim để phóng sanh thì tôi vô cùng hoan hỷ và mua mấy cặp chim để phóng sanh. Một điều lạ lùng là người ngồi bán chim hôm đó là một vị Tăng Sĩ đầu tròn áo vuông. Nhiều người trong đoàn của chúng tôi, mà ngay cả ai là người hiểu đạo cũng vậy, đều bảo rằng: Tại sao ông Sư lại đi làm việc ấy? Ở đây có hai lẽ để giải thích. Nếu là Sư chính hiệu thì nên thả hết tất cả những con chim nầy ra, chứ tại sao lại ngồi đó để bán? Hoặc giả, nếu muốn tạo nên tài chánh cho chùa, thì một vị Cư Sĩ ngồi bán, cũng đã thấy khó coi rồi, tại sao vị Sư lại làm việc ấy?

 

Người thông dịch viên tiếng Đức hôm đó cũng hỏi chúng tôi rằng: Tại sao chùa chiền trải qua hơn 1.000 năm lịch sử đều hư hại, mà tượng lại không hư? Ai trong chúng tôi cũng không thể trả lời câu hỏi nầy được. Đoạn anh ta giải thích. Sở dĩ có điều ấy là khi tạc tượng từ đầu đến chân tượng các điêu khắc gia đều có đục những lỗ lớn và nước có thể thông hơi từ đây một cách tự nhiên. Do vậy mà tượng lại còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Trên núi nầy cũng có chùa Lăng Vân tự. Trước chùa có một đền thờ Lão Tử và Bát Quái có giải nghĩa âm dương ngũ hành. Tại Trung Hoa cho đến ngày nay có nhiều chùa Phật Giáo vẫn thờ như vậy. Điều nầy cũng giống như tại Ấn Độ trong các chùa Phật Giáo, Ấn Độ giáo thường hay chen chân vào để có sự ảnh hưởng với nhau. Chúng tôi bây giờ đã lên đến ngang vai tượng ở một phía khác và từ đây có nhiều người cũng đã đi bộ xuống dưới chân tượng theo những lối cầu thang cheo leo phía bên ngoài. Từ trên nhìn xuống một đoàn người leo như thế chẳng khác nào một con rắn dài uốn éo vòng vo. Từ đó mới thấy tượng Đại Phật Lạc Sơn là to lớn có một không hai tại xứ nầy là vậy.

 

Phía bên kia tượng cũng có treo một Đại Hồng Chung bằng đồng được đúc từ đời nhà Tùy; có khắc 4 bên chung: Phật Nhựt Tăng Huy, Pháp Luân Thường Chuyển, Phong Điều Võ Thuận và thay vì để Quốc Thái Dân An thì khắc là: Đế Đạo Hà Xương. Sau đó phái đoàn đã trở lại Thành Đô bằng xe Bus và tối hôm đó ngày 16.10.1999 chúng tôi đã có một cuộc họp tại khách sạn nầy. Lẽ ra cuộc họp được tổ chức trễ hơn; nhưng có nhiều lý do khác nhau như Bác sĩ Trâm + Kiều đi Hồng Kông trước vào ngày 19.10 và Thiện Tâm Lương Nghị phải rời đoàn ngày 20.10.99 để về lại Quảng Tây; nên chúng tôi mọi người đã hoan hỷ ngồi lại để thảo luận và nói về cảm tưởng của những người trong đoàn về ưu cũng như những khuyết điểm. Mọi người đã phát biểu một cách tự nhiên; nhưng nhìn chung ưu vẫn nhiều hơn khuyết. Điều đáng mừng là suốt chuyến hành hương gần kết thúc không có ai bệnh nặng; chỉ có vài người phải tiêm thuốc bổ để dưỡng sức, trong ấy có tôi mà thôi. Điều căn bản vẫn là đi chiêm bái các thánh tích. Còn việc ăn và ở vẫn là việc phụ. Tuy nhiên nếu việc ăn được cải thiện, nghĩa là không có dầu nhiều và hy vọng Trung Quốc sẽ nấu chay theo đúng nghĩa của sự nấu chay như ở Quảng Châu thì ai cũng không ngán. Vì lẽ dầu nhiều quá. Ai dùng mấy ngày đầu cũng cảm thấy ngon; nhưng những ngày sau thì đau cổ và có đàm nhiều. Do vậy mà người Trung Quốc lục địa đi đâu cũng khạc nhổ lung tung. Nếu những người nầy mà qua Singapore thì sẽ bị phạt nặng nề. Cũng là người Trung Quốc mà mỗi nơi, mỗi khác như thế.

 

Còn vấn đề chỗ ngủ tuy là phụ nhưng cũng đáng quan tâm. Vì suốt các đoạn đường đi, hầu như không có ngày nghỉ. Do vậy khi về khách sạn cần đầy đủ tiện nghi hơn, dĩ nhiên là không cần phải tươm tất; nhưng cần sạch sẽ và thoáng. Vì có nhiều khách sạn ở những nơi chưa phát triển có tính cách quốc tế mà lại là những Đại Danh Sơn của Phật Giáo, khách sạn tại những nơi nầy còn sơ sài lắm. Tối hôm ngày 16.10.99 sau khi họp xong thì mọi người đi nghỉ. Có một số quý vị muốn dạo phố; nhưng đã khuya, thôi đành chờ tối mai vậy.

 

Sáng hôm sau phái đoàn chúng tôi đã đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Đó là chùa Bảo Quang. Chùa nầy được lập lên từ thời Đông Hán và đến đời nhà Đường có vua Đường Minh Hoàng về đây trốn nạn và nhà vua cũng có thời đã đóng đô tại đây. Sở dĩ chùa nầy gọi là Bảo Quang vì nhà vua nằm ngủ thấy một vệt ánh sáng từ đâu bay đến trụ lại trên hư không; nên nhà vua đã cho đặt tên chùa nầy là chùa Bảo Quang. Chùa nầy cách Thành Đô chừng 20 cây số. Sở dĩ cách mạng văn hóa ở Trung Hoa từ 1966-1976 chùa nầy không bị đập phá vì Thủ Tướng Chu Ân Lai đã có lần dùng chùa nầy làm Tổng Hành Dinh cho quân sự để chống lại quân của Quốc Dân Đảng; nên sau nầy Chu Ân Lai đã ra lệnh không cho triệt phá những ngôi chùa như thế. Tôi không biết rằng thời bế quan tỏa cảng như thế có người ngoại quốc nào có mặt tại Trung Quốc không? nếu có, chắc rằng chứng kiến nhiều cảnh phá chùa, đập tượng, giết người, bắt bớ v.v... chắc là thê thảm lắm. Nhiều người Trung Quốc vẫn còn rùng mình khi nhắc lại những thời kỳ đau lòng nầy, mà cách nay chỉ mới 24 năm, đâu có xa xôi gì; nên ai cũng cảm thấy như một giấc mộng.

 

Nhớ lại đất nước Việt Nam của chúng ta cũng thế. Kể từ khi Cộng Sản Việt Nam thôn tính cả miền Nam vào ngày 30.4.1975 họ cai trị với một chính sách độc tài, độc đảng, sắt máu và nặng mùi chủ nghĩa Karl-Marx Lénin cho đến năm 1986 và dân tộc ta đã ngậm đắng nuốt cay, chịu khổ chịu nhục với cái chủ nghĩa không tưởng nầy và dân tộc ta đã chịu không biết bao nhiêu lầm than đói khổ. Không những đói về vật chất, cơm no áo ấm cho người dân, mà còn đói tự do và kể cả tự do tín ngưỡng nữa. Trong khi quê hương của Karl-Marx ở Trier thuộc vùng Nam Đức, người dân tại đây họ không chấp nhận một đứa con lai căn đi làm hại đất mẹ; thì tại Việt Nam nhiều người lãnh đạo Đảng Cộng Sản mang về thờ làm Tổ. Ngay cả Lénin và Stalin cũng thế, ngày nay các xứ Cộng Sản Đông Âu, kể cả Nga Sô cũng đã hạ bệ lâu rồi, chỉ còn Cộng Sản Việt Nam đi ca ngợi chủ nghĩa nầy là bách chiến bách thắng.

 

Tại chùa nầy có treo một số tranh ảnh họa của Trương Đại Thiên, là một họa sĩ chuyên môn vẽ truyền chân, vẽ về ngựa ở đầu thế kỷ thứ 20 nầy. Nhìn những hình ngựa của ông vẽ, người ta có thể tưởng tượng được rằng con ngựa ấy vẫn còn sống và đang hướng về mình. Đó là tài hoa của một người nghệ sĩ vậy. Chùa nầy tuy thuộc về Thiền Tông; nhưng vẫn thờ hình ảnh của 500 vị A-La-Hán. Nói là 500 nhưng trên thực tế có 577 tượng. Mỗi một vị tượng có một bộ khác nhau và cách bắt ấn hay cầm những pháp khí cũng khác nhau. Mỗi tượng cao chừng 1 thước 20 đến 1 thước rưỡi. Hơn 500 tượng như thế được tôn thờ trong một ngôi chùa, được gọi là La-Hán Đường. Triều đại nhà Thanh đã xây thêm La-Hán Đường nầy. Chùa nầy có một bảo tháp cao 13 tầng gọi là Xá Lợi Bảo Tháp. Đứng ở phía nào cũng thấy tháp nghiêng. Có lẽ vì không gian quá chật, nên không đo được độ cao của tháp.

 

Đây cũng là một ngôi chùa đặc biệt trong nhiều ngôi chùa khác ở Trung Quốc là theo cả Thiền Tông lẫn Tịnh-Độ Tông. Điều đặc biệt của đoàn lần nầy là được đảnh lễ xá lợi của Phật. Mọi người vào cửa phải trả tiền thêm. Riêng Tu Sĩ thì khỏi. Tuy nhiên họ vẫn cho Cư Sĩ vào; nhưng rất giới hạn. Phải nói rằng tại Trung Quốc, đi đâu cũng thấy người. Ở Nhật hơn 5 năm tôi đã ngán người đông tại đó. Bây giờ đến Trung Quốc thấy đáng ngại quá. Không biết trong 10 hay 20 năm nữa, với độ tăng nầy, rồi Trung Quốc phải dung chứa vào đâu? Ở thành thị người đông ở nhà lầu đã đành; nhưng tại nhà quê Trung Quốc, nơi nào cũng 4 hay 5 tầng lầu. Điều ấy chứng tỏ rằng chỗ ở nơi đây còn giới hạn lắm. Vì phải dành chỗ để canh tác và nuôi hơn 1 tỷ dân nầy không phải là điều đơn giản. Chúng tôi đầu thành đảnh lễ xá lợi và tụng một thời kinh sám hối tại Bảo Quang tự nầy, trước khi đảnh lễ xá lợi, mà có lẽ nơi nầy Đường Minh Hoàng cũng đã có dịp ghé qua.

 

Trên đường trở lại xe Bus phái đoàn ai cũng mua nào khoai lang nướng, khoai lang lùi, mía róc vỏ, bưởi, cam v.v... như thể tại Âu Châu chưa bao giờ dùng đến. Mọi người Hoa đứng chung quanh chúng tôi tỏ ý tò mò. Có lẽ họ sẽ đặt dấu hỏi. Tại sao cũng da vàng, tóc đen, mũi thấp mà nói tiếng gì xa lạ chứ không phải tiếng Hoa. Những thứ mà chúng tôi mua đó, là những vật liệu rẻ tiền nhất của xứ nầy, đâu có ai muốn nhìn tới. Thế mà cả đoàn hành hương ăn mặc sang trọng, mỗi người một loại trên tay và lên xe Bus với dáng điệu hỉ hả vô cùng. Quê hương là gì nhỉ? Đố ai định nghĩa được. Nhưng nếu không có những thứ nầy thì không nuôi lớn nên người. Vì vậy cho nên người Việt dầu xa quê hương bao lâu và ở bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu nầy cũng luôn luôn có những tình cảm dạt dào hướng về quê mẹ; nhưng quê mẹ có chấp nhận hay không lại là điều khác. Ngày xưa Hạ Tri Chương một văn sĩ nổi tiếng của Trung Hoa lúc trẻ xa quê, đến khi già trở lại. Tuy giọng quê không đổi mà tóc mai đã thay màu. Trẻ nhỏ nhìn thấy nhưng không hiểu người xa quê ấy là kẻ nào và đã cười bảo với nhau như thế.

 

Đây là một tâm sự rất đau thương và não nề cho bao kẻ ly hương như chúng tôi: Sau khi dùng cơm trưa, phái đoàn đã đi thăm Văn-Thù Viện. Chùa nầy đang chuẩn bị trùng tu và xây mới lại một số cơ sở ngoại vi. Trông thấy mô hình chùa ai cũng tắc lưỡi. Vì lẽ so ngôi chùa của Trung Quốc với nhiều ngôi chùa của Việt Nam chúng ta trên thế giới, chùa của chúng ta chẳng ra sao cả. Mỗi ngôi chùa lớn của Việt Nam mình nhiều lắm là bằng cổng Tam Quan của chùa Trung Quốc mà thôi. Đến chùa nầy tôi thấy có một số cụ già bày cho con cháu của mình lễ Phật. Hy vọng rằng đây là một dấu hiệu tốt để Phật Giáo sau nầy có cơ ngơi phát triển, mà nhất là niềm tin của một người con Phật đúng nghĩa phải thực hành giới định huệ và huân tu tịnh nghiệp, mới mong mọi người thấu hiểu Phật Pháp một cách sâu rộng hơn.

 

Tại sân chùa nầy, nơi bình phong giữa sân có gắn lên đó một chữ PHƯỚC ngược đầu. Nhiều cụ già đứng từ xa và nhắm mắt lại, sau đó dang tay ra đi thẳng. Nếu ai bàn tay sờ thẳng chữ PHƯỚC thì người ấy được duyên may. Tại chùa nầy cũng thờ hai đức Văn Thù, Phổ Hiền rất lớn. Ngài Văn Thù cỡi trên con Thanh Sư và Ngài Phổ Hiền cỡi trên con Bạch Tượng 6 ngà. Chùa nầy cũng có chẩn tế để cầu nguyện cho cõi âm được siêu thoát. Do vậy bên ngoài vẫn còn treo hình của con đề thính nơi đạo tràng thường hay chẩn tế.

 

Tiếp đó phái đoàn đã đi thăm Thanh Dương Cung. Nơi đây thờ Lão Tử. Thanh là xanh, Dương là Dê và Cung là cung điện, nơi chốn. Suốt cả đoạn đường đi, đây là lần đầu tiên phái đoàn đến thăm một nơi thờ Lão Tử rất trang trọng. Trước cổng vào có những thanh niên theo Đạo Lão, đội mũ màu đen, để râu tóc dài ngồi đó đoán xăm hoặc chăm sóc cho những người lễ bái. Hai bên cổng ra vào nơi Thanh Dương Cung nầy có hai câu đối như sau:

 

Đạo sinh ra một, một sinh ra hai,

hai sinh ra ba và ba sinh ra vạn vật.

 

Một vế khác đối rằng:

 

Trời sinh ra vạn vật, vạn vật sinh ra người,

người sống trong trời đất và trở về tánh hư vô của Đạo.

 

Thanh Dương Cung của Lão Giáo tại Thành Đô. Tại đây các tín đồ của Đạo Lão cũng ăn chay và y phục của họ toàn là một màu đen.

 

Chính giữa Tam Thanh Điện có thờ Lão Tử và chung quanh là đệ tử của Lão Tử cũng như những vị thần bất tử ở trên trời. Ở tại Tam Thánh Điện có thờ một con Dê bằng đồng xanh và con Dê nầy được cấu tạo bởi 12 con giáp. Ví dụ như đầu dê, tai heo, mắt mèo, lưng cọp, chân ngựa, đuôi gà v.v... Phía trên nóc của Tam Thanh Điện có vẽ sự biến thiên của quẻ Li, có hình giống y hệt lá cờ Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Nghĩa là có 3 sọc đỏ nằm trên nền vàng. Nếu ai đó muốn tìm hình ảnh nầy tại Trung Quốc thì nên đến Thành Đô và tại Tam Thanh Điện thuộc Thanh Dương Cung sẽ thấy được hình ảnh nầy.

 

Nơi cuối cùng của Thanh Dương Cung có thờ hình ảnh của một vị vua nhà Đường cùng Hoàng Hậu đã là tín đồ của Đạo Lão và đã phò trì Lão giáo phát triển trong giai đoạn đó; nhưng rất tiếc là dưới hình nầy không ghi là vị vua nào.

 

Nhiều người muốn trở về khách sạn sớm để đi Shopping. Có nơi để giá 21.200 Yuan tương đương với 4.500 Đức Mã; nhưng cuối cùng chỉ bán 650 Yuan tương đương với 130 Đức Mã. Điều nầy ở Trung Quốc cũng không khác gì Ấn Độ mấy. Nếu khách hành hương khi đi Shopping tại xứ nầy; nên để ý những điều sai biệt bên trên để mà trả giá. Dĩ nhiên có nhiều nơi như chùa chiền thì không nói thách mấy; nhưng cũng có quyền trả giá và những nơi quản lý của chính phủ thì nên trả giá càng nhiều càng tốt. Vì nơi đây giá cả khác biệt nhau rất nhiều với bên ngoài

 

Sinhcafe Hanoi chúc Bạn một chuyến du lịch vui vẻ !

Đặt Tour Trực Tuyến | Liên Hệ

SINHCAFE HANOI

E-mail: info@sinhcafehn.com

Tel: (+84.4) 3747 8557 - 3747 3838 * Fax: (+84.4) 3747 8556.

Hotline: (+84) 988 757 689 - 942 209 689.

Opening Hours ( GMT+0700 )

Mon - Sat: 08:00 A.M - 06:30 P.M

Sunday: 8:00 A.M - 13:00 P.M

 
Trở lại trang trước Gửi cho bạn bè Bookmark & Share In trang này Số lần xem:2963

Gửi cho bạn bè

Email người gửi
Email người nhận
Tiêu đề
Nội dung

  Các chương trình liên quan:
Du lịch Nam Ninh - Hoàng Thạch Trại - Bảo Hồ Phong 5 ngày
( Hoàng Thạch Trại gồm những cảnh đẹp như Điểm Tương Đài, Thiên Thư Bảo Hạp, Lục Kỳ Các, Trích Tinh Đài…sẽ mang đến du khách những sự kỳ thú và ấn tượng đầy sắc mầu trong chuyến hành trình tham quan này )
Du lịch Nam Ninh - Viên Gia Giới - Hồ Bảo Phong 5 ngày
( Bảo Hồ Phong được bao bọc xung quanh bởi cây xanh tươi tốt và những đỉnh núi đá cây bụi phủ với các hình dạng khác nhau. Nước hồ tĩnh lặng, tinh khiết đem lại một cảm giác bình an, thư thái cho con người. Nếu ...)
Du lịch Nam Ninh - Phượng Hoàng - Thành cổ Càn Châu 6 ngày
( Thị trấn cổ Phượng Hoàng nằm ở góc Tây Nam, phía tây tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, dưới chân một ngọn núi dọc theo bờ sông Đà Giang. Do không bị ảnh hưởng bởi sự hiện đại hóa và được bảo tồn rất tốt nên thị ...)
Du lịch Nam Ninh - Trương Gia Giới - Phượng Hoàng 6 ngày
( Trương Gia Giới là tên một thành phố ở phía Tây Bắc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Đây cũng là thiên đường du lịch với vô số cảnh đẹp thần tiên: từ núi non, sông nước hữu tình đến những thung lũng nên thơ, khu rừng ...)
Du lịch Nam Ninh 3 ngày
(Khi máy bay đang hạ thấp dần độ cao, qua cửa sổ du khách có thể nhìn rõ thành phố trùng điệp những công trình kiến trúc hiện đại, chen lẫn những thảm cây xanh mướt. Nam Ninh thành phố có diện tích gần 2.000km2, dân số khoảng 6 triệu (cả ...)
Du lịch Quảng Châu - Thâm Quyến 5 ngày
(Nếu có dịp đến Thâm Quyến, một đặc khu kinh tế non trẻ nhưng cực kỳ giàu có và hiện đại ở phía nam Trung Quốc, bạn đừng bỏ lỡ dịp khám phá một địa điểm du lịch đồ sộ và hấp dẫn nhất ở đây. Đó chính là khu ...)
Du lịch Côn Minh - Thạch Lâm - A lư Động, 7 Ngày
(Côn Minh nằm trên vĩ độ thấp, thuộc khí hậu gió mùa núi đồi cao nguyên, do chịu ảnh hưởng của luồng khí ẩm ướt tây nam Ấn Độ Dương. Nơi đây ánh nắng dồi dào, sương mù ít, nhiệt độ bình quân năm là 15 độ C. Khí hậu ...)
Du lịch Nam Ninh - Biển Bắc Hải, 4 ngày
(Thành phố biển Bắc Hải nổi tiếng với bãi biển Ngân Thán (biển Bạc) với khung cảnh lãng mạn, bãi cát dài trắng mịn, dịch vụ hoàn hảo, điểm đến phong phú, hoàng hóa đa dạng, giá cả phải chăng, đồ ăn hợp khẩu vị, cây cối xanh tươi, người ...)
Du lịch Nam Ninh - Quế Lâm, 5 ngày
(Con đường tơ lụa một thời được coi là con đường thương mại lớn nhất thế giới. Thế nhưng, hương mại trong phạm vi Trung Quốc thường diễn ra quanh các con sông. Vậy thì chúng ta hãy xuôi dòng một con sông được nhiều lữ khách cho là đẹp ...)
Du lịch Nam Ninh - Bắc Kinh - Thượng Hải - Hàng Châu - Tô Châu, 8 ngày
(Bắc Kinh Được biết đến là thành cổ lịch sử, văn hóa nổi tiếng thế giới nói chung và thủ đô nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nói riêng, Bắc Kinh tự hào là cầu nối nước nhà với thế giới. Nơi đây lưu giữ được khá nhiều cảnh ...)
 
     
Thông tin tổng hợp
Giới thiệu công ty  -  Hướng dẫn đặt Tour  -  Hỏi đáp du lịch  -  Ngân hàng   -  Thời tiết   -  Giải trí - VNT Thiết kế website

Sinhcafe Hanoi - Impression by Belief !

Tại Hà Nội

:

Số 4 Ngõ 38B, Lý Nam Đế, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại

:

84.4.3747 8557 - 3747 3838 * Fax: +84.4.3747 8556

Hotline

:

84. 988 757 689 - 942 209 689. / Email: info@sinhcafehn.com  

Tại Sapa

:

Số 31 Thạch Sơn, Thị Trấn Sapa, Lào Cai.

Điện thoại

 

84.984766301 - Mr Khánh / Email: sapa@sinhcafehn.com

Tại TP. Hồ Chí Minh

 

Số 172 Bùi Viện, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

Điện thoại

:

84.903733713 - Ms Châu / Email: saigon@sinhcafehn.com

Website

:

www.sinhcafehn.com (Tiếng Việt) * www.vietnamclassictour.com (Tiếng Anh)

www.facebook.com/hanoisinhcafe * www.twitter.com/sinhcafehanoi

Ghi rõ nguồn " www.sinhcafehn.com " khi bạn phát lại thông tin từ website này. DMCA.com Protection Status




Thiết kế bởi VNT.,Tech